Dạy dỗ trẻ là công việc đòi hỏi bạn phải tỉ mẩn và kiên trì có những ông bố bà mẹ vô cùng yêu thương con cái nhưng khi bảo họ dạy con mình học thì họ lại gặp phải khó khăn trong việc truyền đạt kiến thức, có những ông bố bà mẹ không đủ kiên nhẫn để ngồi hàng giờ dạy cho bé, hay họ không có lượng kiến thức cơ bản và đơn giản để dạy cho bé ...nếu bạn là những ông bố bà mẹ thực sự quan tâm tới tương lai của con cái bạn hãy dành chút thời gian để cùng bé học bài, nếu bạn không tự tin vào lượng kiến thức của mình thì bạn có thể dạy cho bé những kiến thức về thế giới xung quanh, bạn có thể tìm hiểu phương pháp dạy trẻ thông qua những người bạn bè, qua bào chí, tài liệu trên mạng, nếu bạn không đủ kiên trì ngồi hàng giờ cùng bé bạn có thể tìm tòi những cách học thú vị cho cả hai bố con. Đơn giản là bạn hãy dạy trẻ về thế giới xung quanh, đó là những thứ bé dễ tiếp thu, vì bé thấy chúng hàng ngày và luôn tò mò về chúng.

Bạn có thể dạy cho bé về đất nước và con người Việt Nam, như quốc kỳ, dạy bé học hát quốc ca, tìm hiểu xem nước ta có bao nhiêu dân tộc cùng sinh sống, dạy bé yêu thiên nhiên, đất nước và con người Việt Nam hơn. Đó là những bài học hữu ích đầu tiên cho bé yêu.
Chỉ mẹ cách dạy trẻ thế giới xung quanh về các loài côn trùng phần 1
Hay đơn giản là bạn dạy bé về thế giới xung quanh bé, đó là những thứ bé nhìn thấy hàng ngày và bé luôn tò mò muốn biết
Côn trùng, hay sâu bọ, là những động vật không xương sống có tên khoa học là lớp Insecta (lớp Côn trùng); đây là lớp ngành Chân khớp (Arthropoda) lớn nhất, phân bố rộng rãi nhất trên Trái Đất. Côn trùng là một nhóm đa dạng, với hơn 1 triệu loài đã được mô tả-chiếm hơn một nửa tổng số tất cả các loài sinh vật sống mà con người biết đến[2][3]—với ước lượng về số loài chưa được mô tả lên tới 30 triệu, và do đó có thể đại diện cho hơn 90% các dạng sống khác nhau trên hành tinh.[4] Người ta có thể tìm thấy côn trùng ở gần như tất cả các môi trường sống trên Trái Đất, mặc dù chỉ có một số lượng nhỏ các loài có thể thích nghi được với đời sống ở đại dương, nơi mà giáp xác là nhóm chiếm ưu thế. Có khoảng 5.000 loài chuồn chuồn; 2.000 loài bọ ngựa; 20.000 loài châu chấu; 17.000 loài bướm; 120.000 loài hai cánh; 82.000 loài cánh nửa; 350.000 loài cánh cứng và khoảng 110.000 loài cánh màng. Côn trùng thực sự (mà được phân loại vào lớp côn trùng) có các đặc điểm sau: thứ nhất, cơ thể của một thành trùng (cá thể trưởng thành của loài) phải phân thành 3 phần tất cả: đầu, ngực và bụng. Thứ hai, thành trùng phải có tất cả ba đôi chân được gắn vào các đốt ngực, hai đôi râu (ăngten) trên đầu, và phần bụng được phân chia thành nhiều đốt (≤11 đốt). Phần lớn (không phải tất cả) côn trùng trưởng thành đều có cánh. Khoa học nghiên cứu về côn trùng được gọi là côn trùng học (entomology).
Chỉ mẹ cách dạy trẻ thế giới xung quanh về các loài côn trùng phần 2
Kiến (ant)
1. Kiến là loài côn trùng có tính xã hội cao có khả năng sống thành tập đoàn lớn tới hàng triệu con.
2. Có khoảng 8.000 loại khác nhau của kiến trên thế giới.
3. Chúng được tìm thấy hầu như ở khắp mọi nơi, nhưng họ là phổ biến nhất ở những khu vực nóng.
4. Thông thường có khoảng 100000 con kiến trong một đàn nhưng tất cả chúng chỉ có một mẹ (được gọi là kiến chúa).
5. Những con kiến mà mắt thường chúng ta thường hay nhìn thấy là kiến thợ.
6. Công việc của chúng là chăm sóc kiến chúa, ấp trứng, chuyển trứng, nuôi kiến con, tìm kiếm thức ăn, đào đất xây dựng tổ, canh gác tổ
7. Vòng đời của kiến có bốn giai đoạn: trứng, ấu trùng, nhộng và trưởng thành.
8. Hầu hết các loài kiến sống được từ 6 đến 10 tuần.
9. Kiến thường có 4 màu đỏ, vàng, nâu, đen.
10. Hầu hết kiến đều không có cánh, khi chúng sống trong tổ trong thời gian dài và được che chở, nơi này sẽ tạo ra cánh cho chúng

Ong (bee)
1. Ong là loài côn trùng có tổ chức xã hội cao như kiến, mối, mọt.
2. Có khoảng 20.000 loại khác nhau của ong trên thế giới.
3. Ong thường sống trong các tổ ở trên cây, kẽ đá, bụi rậm, trong rừng, hoặc các tổ do người nuôi làm cho nó ở.
4. Ong thường sống thành đàn, nhiều nhất có khi tới 25.000 – 50.000 con nhưng tất cả chúng chỉ có một mẹ (được gọi là ong chúa).
5. Những con ong mà mắt thường chúng ta thường hay nhìn thấy là ong thợ.
6. Thông thường, hầu hết các con ong bay khoảng 20 km mỗi giờ, nhưng chúng có thể bay nhanh hơn nhiều.
7. Thức ăn của ong chủ yếu từ hoa bao gồm mật hoa và phấn hoa.
8. Ong chúa là con ong cái duy nhất có quyền đẻ trứng trong đàn o*ng, dài và to hơn các o*ng đực, ong thợ, cánh ngắn hơn thân
9. Ong chúa sống 3 – 5 năm, mỗi tổ chỉ có một con o*ng chúa, nếu trong tổ có nhiều ong sẽ tách thành tổ mới, thường vào mùa xuân.
10. Ong thợ đông nhất, làm đủ mọi việc: lấy mật, nuôi ấu trùng, bảo vệ tổ, thường sống 2 – 6 tháng.

Bướm (butterfly)
1. Bướm là các loài côn trùng nhỏ, biết bay, hoạt động vào ban ngày thuộc bộ Cánh vẩy.
2. Màu sắc của các loài bướm được tạo ra từ hàng nghìn vảy nhỏ li ti, được xếp lên nhau.
3. Bướm dùng vòi ống dài của mình để hút sạch mật hoa bên trong đài hoa.
4. Bòng đời của bướm bao gồm bốn phần: trứng, ấu trùng, nhộng và trưởng thành.
5. Bướm trong giai đoạn trưởng thành có thể sống từ một tuần đến gần một năm tùy loài.
6. Bướm đẻ trứng trên cây thực phẩm và chết sau đó ít lâu trước khi trứng nở.
7. Trứng nở ra sâu bướm ăn cây lá nơi nó ở và lớn lên, sau đó nó hóa thành nhộng trong kén.
8. Nhộng phát triển thành bướm rồi cọ lưng vào kén đến thủng để thành bướm rồi bay ra ngoài.
9. Mỗi con bướm đều có 4 cánh nhưng lại hoạt động như 1 cặp. Bướm đập cánh tương đối chậm (khoảng 20 lần/s)
10. Bướm Comma có thể bay từ giữa sa mạc Sahara đến Anh, với khoảng cách 2000 dặm trong vòng 14 ngày.

Bọ rùa (ladybug)
1. Bọ rùa là loài côn trùng nhỏ cùng gia đình với bọ cánh cứng.
2. Bọ rùa có kích thướt từ 1 đến 10 mm.
3. Bọ rùa thường có màu vàng, cam, hoặc đỏ tươi với những đốm nhỏ màu đen trên bìa cánh.
4. Trên thế giới có đến 5.000 loài bọ rùa đã được miêu tả.
5. Vòng đời của bọ rùa từ 15-23 ngày.
6. Loài bọ rùa thường thấy nhất là bọ rùa 7 sao. Trên bộ cánh vỏ vàng cam có 7 nốt đen.
7. Bọ rùa cái đẻ 10-20 trứng một lần ở mặt sau lá cây.
8. Trứng sau 1-2 tuần sẽ nở ra ấu trùng
9. Ấu trùng này mình đầy lông lá, một ngày ăn khoảng 10 con rệp, càng lớn nó càng ăn nhiều.
10. Bọ rùa là loài có ích dùng làm phòng trị côn trùng có hại như rệp lúa rất có hiệu quả.

Châu chấu (grasshopper)
1. Là côn trùng ăn lá thuộc bộ cánh thẳng.
2. Có hơn 10.000 loài đang sống trên thế giới.
3. Châu chấu đẻ trứng vào cuối mùa hè và mùa thu
4. Châu chấu thường bay chỉ có khoảng cách ngắn.
Nhưng khi bị buộc phải di chuyển tìm kiếm thức ăn, chúng có thể bay cho một loạt các “bước nhảy ngắn” mà tổng số hàng trăm dặm.
5. Châu chấu có 3 đôi chân, 2 đôi chân trước ngắn để đứng và giữ thăng bằng, 1 đôi chân sau dài, to khỏe để nhảy.
6. Bụng châu chấu có nhiều đốt và các lỗ thở.
7. Màng thính giác của châu chấu nằm ở đoạn bụng thứ nhất
8. Ở một số nước ở châu Phi, châu chấu là một nguồn thực phẩm quan trọng, cũng như các loài côn trùng khác, bổ sung thêm protein và chất béo chế độ ăn uống hàng ngày.
9. Ở một số nước ở Trung Đông, châu chấu được đun sôi trong nước nóng với muối,phơi khô sau đó ăn như đồ ăn nhẹ.
10. Châu chấu là một trong những côn trùng gây nguy hại nhất cho con người

Bọ ngựa (mantis)
1. Là loài côn trùng cỡ lớn, dài từ 40 – 80 mm.
2. Trên thế giới có khoảng 2400 loài bọ ngựa khác nhau.
3. Bọ ngựa có đầu hình tam giác, có thể quay nhiều hướng nên tầm quan sát rất rộng.
4. Bọ ngựa dùng đôi chân trước rất khỏe đã tấn công con mồi với tốc độ rất nhanh.
5. Đôi chân trước của chúng có tư thế giống như đang chắp tay nguyện cầu nên trong tiếng Anh còn gọi là Praying Mantis.
6. Bọ ngựa cái thường đẻ hàng trăm trứng vào ổ và ngay từ khi còn trong trứng, bọ ngựa nhỏ đã có hình dáng giống như bố mẹ chúng.
7. Sâu non và sâu trưởng thành đều ăn thịt các loài côn trùng nhỏ khác như bướm, ấu trùng, bọ cánh, ngay cả ong hay gián.
8. Bọ ngựa ăn rất nhiều côn trùng nhỏ và thậm chí ăn cả đồng loại của chúng.
9. Bọ ngựa hầu hết là các loài có ích cho các hoạt động sản xuất của con người vì chúng chỉ ăn các loại sâu bọ và không gây hại cho mùa màng.
10. Tại Trung Quốc, người ta đã quan sát bọ ngựa săn mồi và từ đó nghĩ ra môn Đường Lang Quyền nổi tiếng

Gián (cockroach)
1. Gián đã có mặt trên Trái Đất từ thời kỳ khủng long.
2. Có khoảng 4000 loài gián khác nhau trên toàn thế giới.
3. Gián nhịn thở được tới 40 phút.
4. Chúng có thể chạy với tốc độ 5 km/h.
5. Gián có thể sống đến cả tháng sau khi đã mất đầu.
6. Gián ăn chất hữu cơ đang phân hủy – thứ chứa nhiều nitơ.
7. Gián là nguồn thức ăn quan trọng của nhiều loài động vật nhỏ như chim, chuột.
8. Gián chủ yếu sống về đêm.
9. Gián cái có thể đẻ trứng đến 8 lần, mỗi lần khoảng 40 trứng.
10. Gián có thể sống đến 1 năm.

Muỗi (mosquito)
1. Muỗi là côn trùng thuộc bộ hai cánh.
2. Chúng có một đôi cánh vảy, một đôi cánh cứng, thân mỏng, các chân dài.
3. Muỗi đực hút nhựa cây và hoa quả để sống.
4. Muỗi cái hút thêm máu người và động vật.
5. Chúng có thể bay với tốc độ 1,5 đến 2,5 km/h.
6. Trên thế giới có khoảng 3500 loài muỗi được mô tả.
7. Muỗi sinh trưởng chủ yếu trong các đầm lầy, ao hồ hoặc các vũng nước đọng.
8. Chúng đẻ trứng xuống nước, trứng nở thành ấu trùng gọi là bọ gậy hay lăng quăng.
9. Một số loài muỗi có khả năng là vật trung gian truyền bệnh giữa người với người, hay giữa động vật và người.
10. Trên thế giới, có khoảng hơn nửa tỷ người mắc bệnh sốt rét hàng năm, tập trung ở Châu Phi, với thủ phạm truyền bệnh là muỗi.

Ong vàng phương Bắc Bumble ( Golden Northern Bumblebee)
1. Golden Northern Bumblebee làm tổ dưới long đất.
2. Golden Northern Bumblebee trưởng thành ăn phấn hoa và mật ong.
3. Loài ong này tiết mật để nuôi bản thân chúng và ấu trùng ong, hoặc ong non.
4. Loài ong này thường chọn các khu rừng thưa, vệ đường, hoặc các khoảng không gian trống để làm tổ.
5. Golden Northern Bumblebee tìm thấy ở Mỹ và miền Nam Canada.
6. Giống như những loại ong khác Golden Northern Bumblebee phát tát phấn hoa khi chúng hút mật.
7. Ong Golden Northern Bumblebee chúa đẻ trứng, là thành viên duy nhất trong đàn sống qua mùa đông.
8. Tên chi khoa học của loài ong này là Bombus, có nguồn gốc từ bomby, một từ Hy Lạp có nghĩa là “ vo ve”, “ vù vù”.
9. Tên loài khoa học của loài ong này là Fervidus, có nghĩa là “ tha thiết” hoặc “ hăng hái” trong tiếng Latin.
10. Lớp: Insecta
Bộ: hymenoptera
Họ: Apidae
Chi: Bombus
Loài: Bombus fervidus

Bướm chúa
1. Hàng triệu con bướm chúa di trú mỗi năm, thỉnh thoảng cùng trên một tuyến đường.
2. Sâu bướm chúa được nuôi bằng lá cây bông tai.
3. Dịch của lá cây bông tai khiến cho bướm chúa trở thành món ăn cho các loài thú ăn thịt.
4. Bướm chúa thường tìm thấy ở nơi cây bông tai mọc như thảo nguyên, ven đường, và cánh đồng cát.
5. Loài bướm này thường tìm thấy ở khắp Bắc Mĩ, và thỉnh thoảng chúng di cư đến Hawaii và nước Úc.
6. Sâu bướm chúa có những sọc đen, trắng, vàng, và có thêm những râu đen ngắn ở phía trước và ở cuối lưng.
7. Sâu bướm phát triển thành nhộng có cánh và được bao bọc trong một cái kén màu xanh với những chấm vàng.
8. Ở trong kén, sâu bướm chúa treo mình trên một cành cây cho đến khi chúng tự thoát ra cái kén và trở thành bướm trưởng thành.
9. Ở Canada, loài bướm này con được gọi la “ King Billy” bởi vì nó có màu giống với màu cam ở tay áo khoác của Vua William.
10. Lớp: Insecta
Bộ: Lepidoptera
Họ: Danaidae
Chi: Danaus
Loài: Danaus plexippus

Ve sầu định kì (Periodical Cicada)
1. Khi ve sầu định kì vỗ cánh, chúng phát ra tiếng kêu giống như tiếng dàn nhạc Castanet.
2. Ve sầu định kì trưởng thành không ăn, nhưng trong giai đoạn con nhộng chúng hút nhựa từ rễ cây.
3. Trong giai đoạn nhộng, ve sầu định kì sống dưới mặt đất từ 13 đến 17 năm trước khi chúng chúng thoát ra thành côn trùng có cánh.
4. Khi ve sầu định kì thoát lên mặt đất, nó lột bỏ lớp da cũ khi nó là con nhộng.
5. Lớp da mà ve lột bỏ thường thấy ở trên thân cây hoặc ở các bề mặt gồ ghề khác.
6. Ve sầu định kì sống ở nửa phía Đông của nước Mỹ.
7. Ve sầu định kì có chiều dài khoảng 3cm.
8. Ve sầu định kì chỉ sống trong một vài ngày sau khi chúng thoát khỏi mặt đất để đẻ trứng.
9. Tên chi khoa học của loài ve sầu này trong tiếng Latin có nghĩa là “ chú dế ma thuật” và tên loài khoa học có nghĩa là “ mười bảy”
10. Lớp: Insecta
Bộ: Homoptera
Họ: cicadidae
Chi: Magicicada
Loài: Magicicada septendecim
Mối đất (Subterranean Termite)
1. Mối đất giúp rừng phát triển bằng cách biến đổi những cây khô mục thành chất màu.
2. Nhộng mối đất ăn gỗ và các loại sợi thực vật.
3. Mối đất sống ở thân gỗ ẩm ướt mục ruỗng ở trong rừng hay các khu công trình.
4. Loài côn trùng này sống ở gần khu vực gần rừng, nơi chúng làm đường hầm và ăn gỗ.
5. Mối đất sống ở phía tây Bắc Mỹ, từ California đến Nevada và Bristish Columbia.
6. Khu vực sống của mối đất có mối chúa, mối thợ, và mối canh bảo vệ. và trứng và nhộng mối.
7. Mối chúa đẻ toàn bộ trứng cho tổ của mình.
8. Mối thợ đào hầm và thu lượm gỗ để nuôi nhộng
9. Mối đất có cánh khi chúng chuyển chỗ ở.
10. Lớp: Insecta
Bộ: Isoptera Chi: Reticulitermes
Loài: Reticulitermes Hesperus. Họ: Rhinotermitidae

Kiến đen nhỏ (Little Black Ant)
1. Kiến đen nhỏ sống dưới mặt đất trong nhà hoặc ở bìa rừng.
2. Kiến đen nhỏ ăn những loại thức ăn going con người.
3. Kiến đen nhỏ rất nhanh nhẹn khi đi quanh đường viền khi chúng tìm kiếm thức ăn và tha về tổ.
4. Kiến đen nhỏ làm tổ trên những thân cây mục ruỗng.
5. Kiến đen nhỏ tìm thấy ở khắp khu vực Bắc Mĩ, ngoại trừ khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương.
6. Kiến thợ mang thức ăn về nuôi kiến chúa và ấu trùng.
7. Hầu hết mọi kiến đen dài không quá 2mm.
8. Loài kiến này có thể trở thành một vật có hại khi chúng sống trong nhà, đặc biệt là trong thời tiết ấm.
9. Tên loài khoa học của kiến đen là “ minimum”, theo tiếng Latin có nghĩa là bé nhất.
10. Lớp: insect
Bộ: Hymenoptera
Họ: Formicidae
Chi: Monomorium
Loài: Monomorium minimum

Bọ rùa hai chấm ( Two- spotted Ladybird Beetle)
1. Bọ rùa hai chấm ăn rất nhiều loại côn trùng, bao gồm cả những sinh vật có hại đối với con người.
2. Một trong những loại thức ăn ưa thích của loài này là một loại côn trùng có hại cho hoa màu.
3. Con người nuôi loài bọ rùa này và thả chúng vào vườn hoa màu để chúng tiêu diệt những loài côn trùng có hại khác.
4. Bọ rùa hai chấm thường thấy ở các thảo nguyên, đồng cỏ, và trong các khu vườn.
5. Bọ rùa hai chấm tìm thấy ở khắp Bắc Mĩ , ngoại trừ vùng cực bắc.
6. Loài bọ rùa này đẻ một chùm trứng màu vàng tươi trên một tán lá gần nguồn thức ăn.
7. Bọ rùa hai chấm có chiều dài khoảng 5mm.
8. Ở nước Mỹ , loài bọ rùa này được gọi là “ ladybug”.
9. Bọ rùa hai chấm sử dụng cánh mềm bên dưới những cánh cứng bên trên để bay.
10. Lớp: Insecta
Bộ: Coleoptera
Họ: Coccinellidae
Chi: Adalia
Loài: Adalia bipunctata.

Que khổng lồ di chuyển (Giant Walkingstick)
1. Giant Walkingstick trông giống như một cành cây nhỏ, chính hình dáng đó giúp chúng ngụy trang khỏi kẻ thù.
2. Giant Walkingstick ăn lá cây, cỏ hoặc những thực vật thân gỗ.
3. Loại côn trùng này hầu như bất động cả ngày, chúng chỉ di chuyển đi kiếm mồi vào ban đêm.
4. Loài côn trùng này thường tìm thấy ở rừng, các đống gỗ và khu vực mọc đầy cỏ.
5. Giant Walkingstick thường tìm thấy ở vùng Trung tây của Canada và nước Mỹ.
6. Giant Walkingstick đẻ những con non có vỏ cứng trông giống những quả trứng trên mặt đất.
7. Giant Walkingstick có thể đạt kích thước chiều dài lên tới 150mm.
8. Giant Walkingstick đung đưa trong gió bằng hai chân trước, lúc này trông chúng rất giống một nhánh cây đang đu đưa.
9. Nơi ăn ở, trú ngụ yêu thích của Giant Walkingstick là ở các vườn nho và các cây sồi.
10. Lớp: Insecta
Bộ: Phasmatodea
Họ: Phasmidae
Chi: Megaphasma
Loài: Megaphasma dentricus.

Chuồn chuồn xanh Darner (Green Darner Dragonfly)
1. Chuồn chuồn xanh Darner bay rất nhanh và rất khó nhìn thấy, chúng ta chỉ nhìn thấy khi chúng đậu nghỉ ngơi.
2. Chuồn chuồn xanh Darner ăn muỗi và những loại côn trùng biết bay khác.
3. Chuồn chuồn xanh Darner có thể bay tiến, bay lùi và có thể liệng trên không trung.
4. Loài côn trùng này lao lên không trung trên khu vực ao hồ, suối để bắt mồi.
5. Chuồn chuồn xanh Darner tìm thấy khắp khu vực Bắc Mỹ.
6. Ở giai đoạn nhộng chúng sống dưới lòng đất, thức ăn trong giai đoạn này là nòng nọc, các loại cá nhỏ và côn trùng nước.
7. Chuồn chuồn xanh Darner trưởng thành đạt chiều dài 7,6cm.
8. Loài côn trùng này không thể gập cánh vào trong thân được,chúng luôn xòe cánh ngay cả khi nghỉ ngơi.
9. Những cái chân dài không có tác dụng cho việc đi lại, chúng thích hợp với việc giữ con mồi.
10. Lớp: Insecta
Bộ: Odonata Họ: Aeshnidae Chi: Anax Loài: Anax junius

Châu chấu Differential
1. Đôi chân to khỏe của Châu chấu Differential giúp chúng nhảy rất xa.
2. Châu chấu Differential ăn cỏ, hoa màu nông nghiệp và trái cây.
3. Châu chấu Differential tạo ra những tiếng kêu lách tách bằng cách cọ chân và cánh vào với nhau.
4. Châu chấu Differential thường tìm thấy ở các cánh đồng hoa màu, nơi nhiều cỏ mọc, các khu rừng thưa và bờ rào.
5. Châu chấu Differential thường có ở khắp nước Mỹ và phần phía Nam của Canada.
6. Châu chấu Differential đẻ trứng trên đất mềm, chúng tiết ra một chất dính sau đó chất dính đó sẽ cứng dần thành một lớp bảo vệ trứng.
7. Châu chấu Differential sẽ chết khi thời tiết lạnh, trứng châu chấu nở vào cuối xuân.
8. Châu chấu Differential là thức ăn của nhiều loài chim, rắn và chuột.
9. Châu chấu Differential có hại cho mùa màng.
10. Lớp: Insecta
Bộ: Orthoptera
Họ: Acrididae
Chi: Melanoplus
Loài: Melanoplus differentialis

Ruồi ( Housefly)

1. Chẩn ruồi sắc mảnh và dính giúp chúng có thể đi lại hoặc bước trên các vật trơn bằng phẳng.
2. Ruồi sống chủ yếu nhờ vào chất lỏng ngọt hoặc có những chất đang phân hủy.
3. Ruồi có thể truyền một số bệnh nguy hiểm sang con người.
4. Ruồi thường tìm thấy quanh nơi thức ăn không được che đậy, trong gara, và phân ngựa.
5. Ruồi có mặt khắp nơi trên thế giới ngoại trừ vùng Bắc Cực và một số hòn nhỏ đảo biệt lập.
6. Ấu trùng muỗi sống nhờ vào những chất hữu cơ ẩm như thức ăn đang phân hủy hoặc xác động vật chết.
7. Trứng ruồi nở thành ấu trùng sau 24 giờ, và ấu trùng trở thành nhộng sau 5 ngày.
8. Nhộng ruồi sau 5 ngày phát triển thành ruồi trưởng thành có đầy đủ cánh.
9. Ruồi có đôi mắt kép và lớn cho phép chúng có thể nhìn nhiều hướng khác nhau cùng một lúc.
10. Lớp: Insecta
Bộ: Diptera Chi: Musca Họ: Muscidae Loài: Musca domesticas

Một số thông tin thêm về côn trùng do Glenn Doman sưu tầm:

Hình thái và phát triễn:
Kích thước côn trùng dao động khoảng từ trên dưới 1 mm tới khoảng 180 mm về chiều dài. Côn trùng có cơ thể phân đốt và được bảo vệ bởi một bộ xương ngoài, một lớp cứng được cấu tạo chủ yếu bởi kitin. Cơ thể được chia thành đầu, ngực và bụng. Trên đầu có một cặp râu là cơ quan cảm giác, một cặp mắt kép và 2 mắt đơn (ở giai đoạn sâu non có thể là 6 mắt đơn) và một miệng. Ngực có 6 chân (mỗi đốt một cặp chân) và 2-4 cánh (ở các loài có cánh). Bụng có cơ quan bài tiết và cơ quan sinh sản. Côn trùng có một hệ tiêu hoá hoàn chỉnh, gồm một ống liên tục từ miệng tới hậu môn, khác với nhiều loài động vật chân khớp đơn giản khác có hệ tiêu hoá chưa hoàn chỉnh. Cơ quan bài tiết gồm các ống Manphigi (Malpighian), với chức năng thải các chất thải chứa nitơ, ruột sau làm nhiệm vụ điều hoà áp suất thẩm thấu, đoạn cuối ruột sau có khả năng tái hấp thu nước cùng với muối Natri và Kali. Vì vậy, côn trùng thường không bài tiết nước ra cùng với phân, thực tế thì chúng cho phép dự trữ nước trong cơ thể. Quá trình tái hấp thu này giúp chúng có thể chịu đựng được với điều kiện môi trường khô và nóng.
Chỉ mẹ cách dạy trẻ thế giới xung quanh về các loài côn trùng phần 3
Hầu hết côn trùng có hai cặp cánh liên kết với đốt ngực 2 và 3. Côn trùng là động vật không xương sống duy nhất đã tiến hoá theo hướng bay lượn và chính điều này đóng một vai trò quan trọng trong sự thành công của chúng. Các côn trùng có cánh, và những côn trùng không cánh thứ sinh đã tạo nên nhóm có cánh (Pterygota). Cơ chế bay của côn trùng cho đến nay vẫn chưa được tìm hiểu một cách đầy đủ, người ta cho rằng nó phụ thuộc rất lớn vào khối không khí nhiễu loạn do cánh tạo ra. Ở những côn trùng nguyên thuỷ lại dựa chủ yếu vào tác động của hệ cơ lên cánh và cấu trúc của cánh. Ở những bộ tiến hoá hơn như Neoptera, cánh thường gập lại trên lưng khi chúng nghỉ ngơi. Ở những côn trùng này, cánh được hoạt động bởi các cơ bay gián tiếp mà giúp cánh vận động bằng cách ép mạnh lên thành ngực. Những cơ này có thể co lại khi bị căng ra mà không cần sự điều khiển của hệ thần kinh, điều này cho phép chúng tạo ra tần số co dãn cơ tương đối cao.

Côn trùng sử dụng cơ quan hô hấp khí quản để vận chuyển ôxy vào trong cơ thể. Các ống khí này mở ra ở bề mặt cơ thể và được gọi là lỗ thở (mỗi đốt có 1 đôi lỗ thở ở 2 bên), từ đây không khí được dẫn vào hệ thống khí quản. Không khí đi vào các mô thông qua các nhánh khí quản. Vòng tuần hoàn của côn trùng, cũng như tất cả các chân khớp khác là một hệ hở. Tim bơm dịch huyết vào động mạch qua xoang tim.
Sâu, ấu trùng của loài cánh vảy Lepidoptera (bướm và ngài) biến thái không hoàn toàn.

Côn trùng nở từ trứng, trải qua nhiều lần lột xác trước khi đạt tới kích thước trưởng thành của loài. Cách sinh trưởng này là bắt buộc vì chúng có bộ xương cứng bên ngoài, được cấu tạo chủ yếu bởi kitin (chitin). Lột xác là quá trình mà con vật thoát khỏi lớp xương ngoài cũ để tăng lên về kích thước, sau đó hình thành nên bộ xương ngoài mới, vì lớp xương ngoài bằng kitin hoặc đá vôi của các loài chân khớp không thể tăng lên về kích cỡ, trong khi cơ thể của chúng luôn luôn lớn lên cho tới lúc trưởng thành. Ở hầu hết các loài côn trùng, giai đoạn trẻ được gọi là thiếu trùng (nymph). Thiếu trùng có thể có cấu tạo tương tự như Thành trùng như ở châu chấu (mặc dù cánh vẫn chưa chỉ phát triển đầy đủ cho đến giai đoạn trưởng thành). Đây là những côn trùng biến thái không hoàn toàn. Ở những côn trùng biến thái hoàn toàn (hầu hết côn trùng), trứng nở thành dạng ấu trùng, có dạng giống như giun đất, gọi là giai đoạn sâu non. Ấu trùng phát triển và cuối cùng biến thái thành nhộng (pupa – một giai đoạn được bao bọc trong kén) ở một số loài. Ở trạng thái kén, chúng trải qua những thay đổi đáng kể về hình dạng và cuối cùng chui ra khỏi kén như một con trưởng thành hay còn gọi là hoá vũ. Bướm là một ví dụ tiêu biểu cho bọn côn trùng có biến thái hoàn toàn.
Tập tính

Nhiều loài côn trùng có các cơ quan cảm giác rất tinh tế. Trong một số trường hợp, các giác quan của chúng nhạy cảm hơn con người rất nhiều. Ví dụ, ong có thể nhìn được trong phổ bức xạ cực tím để tìm kiếm nơi hút mật là những bông hoa có bức xạ này để “dẫn đường” cho ong. Bướm đực có cái “mũi chuyên hóa” là đôi ăng ten (ở bướm ngày ăng ten có chóp tròn ở đầu mút và ở ngài (bướm đêm) lại có dạng lông vũ hoặc không có đầu mút tròn) có thể ngửi thấy pheromon của bướm cái từ khoảng cách vài km.

Giác quan:
Thị giác của côn trùng thuộc hàng tốt nhất trong thế giới động vật. Và chúng lại có tới hai loại mắt: mắt kép và mắt đơn. Mỗi mắt kép của côn trùng được tạo nên bởi hàng trăm, hàng nghìn thấu kính nhỏ (là một tế bào thị giác) có kích thước hiển vi, mỗi thấu kính lại tiếp nhận một hình ảnh giống hệt nhau, điều đó có nghĩa là nếu bạn đứng trước một con ruồi, thì trong mắt nó, hình ảnh của khuôn mặt bạn sẽ được nhân lên hàng nghìn lần để hiển thị trên cũng ngần ấy thấu kính tí hon. Trong khi đó, mỗi mắt đơn chỉ được cấu tạo bởi một thấu kính như vậy, và chỉ có tác dụng cảm nhận sáng tối mà thôi.

Một số côn trùng có cả mắt đơn và mắt kép, trong khi những côn trùng khác chỉ có mắt đơn. Đặc biệt, mắt của côn trùng không chỉ nằm trên đầu. Các nhà khoa học đã thử bịt kín đầu của một con côn trùng, nhưng nó vẫn cảm nhận được vùng có ánh sáng nhờ những tế bào thị giác nằm rải rác trên cơ thể.

Không phải côn trùng nào cũng có thị giác tốt như nhau: Những côn trùng có lối sống săn mồi và ham thích bay lượn vào ban ngày như chuồn chuồn, ruồi, bọ ngựa, ong, bướm và bọ cánh cứng thường có thị giác rất tốt, bằng chứng là đôi mắt của chúng gần như bao trùm một nửa hay toàn bộ cái đầu. Những côn trùng khác ưa tối và hoạt động vào ban đêm (như gián), có cuộc sống chật chội dưới những hào sâu trong lòng đất (như kiến và mối thì có thị giác kém hơn rất nhiều. Bù lại, con gián có đôi ăngten dài có vai trò xúc giác (chạm vào các vật thể xung quanh như chiếc gậy dò đường của người mù), vai trò khứu giác giúp chúng tìm ra chiếc bánh ngọt của bạn và có những lông xúc giác cực nhạy nhô ra từ đằng sau bụng có thể cảm nhận mọi rung động nhỏ nhất của không khí và mặt đất xung quanh giúp chúng biến mất ngay khi con người xuất hiện trong bếp. Mối là hậu duệ tiến hóa của gián, phần lớn chúng đều mù, và một số loài kiến, kẻ thù truyền kiếp của chúng cũng vậy. Nhưng chúng có hệ thống khứu giác hết sức ưu việt và một tập thể trinh sản được tổ chức một cách thông minh, giúp cả tập đoàn kiến thống nhất như một cơ thể trong mọi hoạt động sống thường ngày.

Các côn trùng có tập tính xã hội như kiến hay ong, chúng sống cùng nhau trong một tập đoàn lớn và được tổ chức rất tốt. Các cá thể trong tập đoàn tương đối giống nhau về bộ gen (do trinh sản) nên người ta có thể coi cả tập đoàn như một “siêu cơ thể”. Đứng đầu một thị tộc côn trùng như vậy là con chúa-con cái duy nhất có khả năng sinh sản, và chỉ đảm nhiệm chức vụ này trong bầy và là mẹ của mọi con côn trùng khác trong thị tộc, bao gồm những con thợ là những con cái không có khả năng sinh sản, thực hiện mọi nhiệm vụ của tổ, từ kiếm thức ăn, vệ sinh tổ và vệ sinh con chúa, chăm sóc ấu trùng… Con chúa điều khiển lũ con của mình bằng pheromon, và cứ vào mỗi mùa sinh sản mới, chúng lại cho ra đời một lứa con chúa là hậu duệ của mình, khi trưởng thành những con này sẽ bay đi để tạo nên một thị tộc riêng, những đàn kiến cánh bay vào nhà bạn chính là hình ảnh minh họa rõ nét của chúng. Còn những con thợ thì được sinh ra hằng ngày với tốc độ chóng mặt. Còn những con đực chỉ đóng vai trò sinh sản.

Bạn có thể dạy cho bé về đất nước và con người Việt Nam, như quốc kỳ, dạy bé học hát quốc ca, tìm hiểu xem nước ta có bao nhiêu dân tộc cùng sinh sống, dạy bé yêu thiên nhiên, đất nước và con người Việt Nam hơn. Nơi mà được gọi là rừng vàng biển bạc, nơi có đa dạng sinh học, nếu bé nhà bạn yêu thích động vật ham tìm hiểu về các loại côn trùng thì chủ đề về đa dạng sinh học ở Việt Nam vô cùng hấp dẫn.

Dạy bé thế giới xung quanh cũng là cách giúp các bé phát triển kiến thức một cách toàn diện về kiến thức nhà trường, kiến thức xã hội, bạn có biết loài rùa sống ở đâu, chúng sinh sản như thế nào, chúng ăn những loại thức ăn gì, tuổi thọ của chúng kéo dài bao lâu? đây là những câu hỏi của bé thường hay hỏi bạn và có thể bạn cũng không chú ý nhiều về kiến thức động vật, nếu bé hỏi cũng là cách giúp bạn tìm hiểu thêm về kiến thức động thực vật học. Còn gì hạnh phúc hơn khi người mẹ nhìn thấy hai bố con vui cười bên bàn học của bé.